Climate change

Một số vấn đề chung về Biến đổi khí hậu


A.     Giới thiệu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề mới không những chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới, vì vậy việc hiểu rõ các khái niệm liên quan tới BĐKH, tác nhân gấy ra BĐKH và những tác động của chúng trong những năm tới đối với nhành cà phê không phải là vấn đề dễ dàng, do đó những tác nhân trong chuỗi sản xuất cà phê cần phải nghiên cứu tìm hiểu trước khi xem xét đưa ra các biện pháp thích ứng cụ thể.
B.     Mục tiêu thực hiện
Học xong bài này, học viên sẽ có khả năng:
-        Phát biểu được nội dung của các khái niệm liên quan đến biển đổi khí hậu.
-        Nêu được tác nhân chính do hoạt động của con người gây ra biến đổi khí hậu, những tác động chính của biến đổi khí hậu và chiều hướng biến đổi của khí hậu ở Việt Nam trong những năm tới.
C.   Nội dung bài học
1.      Thuật ngữ và định nghĩa
1.1.         Thời tiết (Weather):
Trạng thái khí quyển tại một thời điểm nhất định được xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, mưa, tốc độ gió, độ ẩm và áp suất không khí. Thời tiết hay thay đổi trong ngắn hạn (phút, giờ, ngày, tuần, tháng, mùa).
Các cụm từ, thành ngữ như: Đông qua Xuân tới, Xuân qua Hạ về, sớm nắng chiều mưa, hết mưa là nắng hửng lên thôi…đều có ý chỉ sự thay đổi của thời tiết. Các dự báo như nắng tốt dưa, mưa tốt lúa; chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm…là nói tới tác động của thời tiết.
1.2.         Khí hậu (Climate):
Tổng hợp cuả thời tiết được đặc trưng bằng các trị số thống kê trong dài hạn (trung bình, xác suất của các cực trị…) của các yếu tố khí tượng biến động trong một khu vực địa lý. Thời kỳ tính trung bình thường là 30 – 35 năm. Theo định nghĩa của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO): Khí hậu là tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một khu vực nhất định đặc trưng bới các thống kê dài hạn các biến số của trạng thái khí quyển ở khu vực đó.
1.3.         Biến đổi khí hậu (Climate Change):
Sự thay đổi trạng thái của khí hậu có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động của con người, làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiêntrong các thời gian có thể so sánh được. Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn cuả một tham số hay thống kê khí hậu. Trong đó số trung bình được tính trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài chục năm.
1.4.         Biến thiên khí hậu (Climate Variablility):
Giao động về giá trị trung bình của trạng thái và các thông số thống kê khác (độ lệch chuẩn), các hiện tượng của khí hậu trên cả phạm vi không gian và thời gian, có thể do cả yếu tố tự nhiên và con người, có thể do cả bên trong và bên ngoài.
1.5.         Khí nhà kính (Greenhouse Gases – KNK):
Là các khí có trong khí quyển, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo,có khả năng hấp thụ các tia có bức sóng trong dải sóng nhiệt hồng ngoại (thermal infrared radiation) trên bề mặt Trái đất, khí quyển và mây mù, ngăn cản và làm giảm lượng bức xạ của Trái đất thoát ra ngoài vũ trụ, do đó làm nóng tầng bên dưới khí quyển và bề mặt Trái đất. Tác động của các khí này có tính chất của các tia nhiệt trong nhà kính (gây hiệu ứng nhà kính) nên gọi là khí nhà kính. Những KNK trong khí quyển trên bề mặt Trái đất gồm: Hơi nước, carbon dioxide CO2, nitrous oxide N2O, methane CH4, hydro-flourocarbon HFC, per-flourocarbon PFCs, sulphur hexaflourie SF6.
1.6.         Yếu tố khí hậu (Climate Element):
Một trong những tính chất hay điều kiện của khí quyển (như nhiệt độ không khí) đặc trưng cho trạng thái thời tiết hay khí hậu tạo một nơi, vào một khoảng thời gian nhất định.
1.7.         Nhân tố khí hậu (Climate Factor):
Các điều kiện vật lý nhất định (khác với yếu tố khí hậu) điều chỉnh khí hậu (như vĩ độ, độ cao, sự phân bố đất, biển, đại hình, các dòng chảy đại dương…)
1.8.         Nóng lên toàn cầu (Global Warming):
Sự tăng Dần nhiệt độ Trái đất do các khí nhà kính tích tụ trong khí quyển.
1.9.         Kịch bản biến đổi khí hậu (Climate Change Scenario):
Là các giả định có sơ sở khoa học và độ tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng. Lưu ý: kịch bản biến đổi khí hậu khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu ở chỗ nó đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển và hành động.
1.10.    Phát thải (Emission):
Sự thải các khí nhà kính và/hoặc các tiền tố của chúng vào khí quyển trên  một khu vực và thời gian cụ thể.
2.         Biến đổi khí hậu trên toàn cầu
2.1.         Các hệ khí hậu hoạt động và biến đổi như thế nào
-         Khí hậu trên Trái đất được quyết định bởi nguồn năng lượng đến từ mặt trời, nguồn năng lượng rời khỏi Trái đất thông qua quá trình bức xạ và sự trao đổi năng lượng giữa khí quyển với đất đai, đại dương, các khối băng, sinh vật.
-        Thành phần bầu khí quyển đặc biệt quan trọng: khí + Sol khí (hạt hơi nước rất nhỏ + khí) ảnh hưởng đến dòng bức xạ từ mặt trời vào Trái đất và bức xạ hồng ngoại (Thermal Infra Red) rời khỏi Trái đất: hơi nước, CO2, CH4, O3, N2O đều là KNH tồn tại một cách tự nhiên trong khí quyển. các khí này ngăn chặn năng lượng hồng  ngoại (nhiệt) thoát ra khỏi Trái đất vào vũ trụ, tránh cho Trái đất lạnh cóng và không có sự sống. đây là hiệu ứng nhà kính tự nhiên. Hiệu ứng này cho trái đấy nóng lên cỡ khoảng 330C so với không có hiệu ứng và làm cho phần lướn H2O trên thế giới ở thể lỏng và đảm bảo sự sống trên Trái đất.
-                     Từ năm 1995, Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC = Intergovernnational Panel for Climate Change) đã đưa ra các bằng chứng thuyết phục cho thấy ảnh hưởng của con người đối với khí hậu toàn cầu. Tới năm 2011, IPCC đã có bằng chứng mới mạnh hơn cho thấy tình trạng ấm lên đã quan sát đưuọc trong 50 năm qua có nguyên nhân chủ yếu do hoạt động của con người. Năm 2011, IPCC khẳng định sự ấm kên trong hệ khí hậu là điều không còn phải nghi ngờ và phần lớn sự gia tăng nhiệt độ bình quân trên troàn cầu có nguyên nhân từ sự tăng lượng khí nhà kính xuất phát từ hoạt động của con người đã quan sát được.
2.2.         Phát thải khí nhà kính – nguyên nhân chính của biến đổi khí hậu
Các hoạt động của con người đã làm tăng đáng kể các loại KNK, vì vậy làm tăng hiệu ứng KNK tự nhiên. Đặc biệt trong thế kỉ 20, nồng độ khí CO2 tăng lên rất nhiều từ 280ppm đến 387ppm (tăng 40%). Hàm lượng các KNK khác như CH4, N2O cũng tăng lần lượt từ 715 ppb (phần tỷ) và 270 ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên 1774 ppb (151%) và 319 ppb (17%) vào năm 2005. Riêng các chất khí chlorofluoro carbon (CFCs) và là KNK với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều CO2, vừa là chất phá hủy tầng Ozon bình lưu, chỉ mới có trong khí quyển do con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển.
Trên phạm vi toàn cầu, thành phần KNK ước tính bao gồm CO2 50%; CFC 20%; CH4 16%; O3 8%; N2O 6%. Các nguồn phát thải đóng góp vào sự nóng lên của Trái đất tính chung theo toàn cầu (theo IPCC): các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, năng lượng…46%, phá rừng nhiệt đới 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9%, các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) từ các hoạt động khác.
Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh mỗi người dân trung bình phát thải 1.100 tấn, gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và 48 lần ở Ấn Độ. Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO2 của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn, bằng khoảng 20% tổng lượng khí CO2 phát thải toàn cầu. Trung Quốc là nước phát thải lớn thứ 2 với 5 tỷ tấn CO2, tiếp theo là Liên Bang Nga 1,5 tỷ tấn, Ấn Độ 1,3 tỷ tấn, Nhật Bản 1,2 tỷ tấn, CHLB Đức 800 triệu tấn, Canada 600 triệu tấn, Vương quốc Anh 580 triệu tấn. các nước đang phát triển phát thải tổng cộng 12 tỷ tấn, chiếm 42% tổng lượng khí CO2 phát thải toàn cầu so với 7 tỷ tấn năm 1990 (chỉ chiếm 29% tổng lượng phát thải toàn cầu), cho thấy tốc độ phát thải khí CO2 của các nước này tăng khá nhanh trong khỏang 15 năm qua. Một số nước phát triển dựa vào đó để yêu cầu các nước đang phát triển cũng phải cam kết theo Công ước Biến đổi khí hậu.
Bảng 1.1. Thống kê khí nhà kính theo ngành năm 1994 và 2000
                                                           Đơn vị: 1000 tấn CO2
Năm 1994 2000
Ngành Lượng phát thải Phần trăm Lượng phát thải Phần trăm
Năng lượng 25637.09 24.7 42773.46 35.0
Nông nghiệp 3801.19 3.7 10005.72 6.6
Hoạt động công nghiệp 52450.00 50.5 650990.65 43.1
LULUCF* 19380.00 18.6 15104.72 10.0
Rác thải 2565.02 2.5 7925.18 5.3
Tổng 103839.30 100 150899.73 100
 
                        Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010
(*): LULUCF: Sử Dụng đất, thay đổi mục đích sử Dụng đất và rừng.
Tuy nhiên điều đáng lưu ý là trong khi các nước giàu chỉ chiếm 15% dân số thế giới, nhưng tổng lưọng phát thải của họ chiếm tới 45% tổng lượng phát thải toàn cầu, các nước Châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2%, và các nước kém phát triển với 1/3 dân số thế giới chỉ phát thải 7% tổng lượng phát thải toàn cầu.
Còn tại Việt Nam, kiểm kê KNK năm 2000 cho thấy, nguồn phát thải KNK 45,4% từ hoạt động sản xuất nông nghiệp; 35,2% từ sử dụng các dạng năng lượng hóa thạch khác nhau; 10,5% từ hoạt động lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất; 7% từ công nghiệp và 1,9% từ rác thài. Dự báo thời gian tới nguồn phát thải KNK từ nông nghiệp và lâm nghiệp không thay đổi, song trong lĩnh vực năng lượng lại tăng lên đáng kể. như vậy, có thể thấy quản lý tốt KNK từ nông nghiệp có thể giảm thiểu đáng kể phát thải KNK hiện nay, song trong thời gian tới sẽ phải quan tâm nhiều hơn trong lĩnh vực sử dụng năng lượng. Dự tính tổng lượng phát thải các KNK của nước ta sẽ lên đến 233,3 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2020, tăng 93% so với năm 1998.
Riêng về khí CO2 (không kể các khí nhà kính khác), năm 1990, Việt Nam phát thải 21,4 triệu tấn; năm 2004 phát thải 98,6 triệu tấn; tăng gần 5 lần, bình quân đầu người 1,2 tấn một năm (trung bình của thế giới là 4,5 tấn/ năm; Singapor 12,4 tấn; Malaysia 7,5 tấn; Thái Lan 4,2 tấn; Trung Quốc 3,8 tấn; Indonesia 1,7 tấn; Philippin 1,0 tấn; Myanma và Lào 0,2 tấn). nhưn vậy phát thải các khí CO2 của Việt Nam tăng khá nhanh trong 15 năm qua, song vẫn ở mức rất thấp so với trung bình toàn cầu và nhiều nước trong khu vực.
2.3.         Những tác động cơ bản của BĐKH đối với Trái đất
Trái đất nóng lên sẽ làm cho hệ thống khí hậu thay đổi, theo báo cáo của STERN thì đây là một vấn đề toàn cầu, dài hạn, chứa đựng nhiều bất ổn/không chắc chắn, có khả năng ảnh hưởng rộng lớn và không đảo ngược được.
Những tác động của BĐKH đã thể hiện khá rõ nét trong thời gian gần đây và theo dự báo của các nhà khoa học và cá tổ chức quốc tế, thì những biến đổi này sẽ còn tạo nên những tác động rất lớn trong tương lai.
Đến nay các nhà khoa học trên thế giới đã thống nhất nhận định những tác động cơ bản của BĐKH đối với Trái đất bao gồm bốn hiện tượng chính là: (1) nhiệt độ Trái đất nóng dần lên; (2) băng tan và mực nước biển dâng cao; (3) thiên tai và các sự kiện cực đoan xảy ra thường xuyên và khốc liệt hơn; và (4) một số dạng tài nguyên mất đi hoặc biến đổi theo hướng bất lợi.
(1)    Nhiệt độ Trái đất nóng dần lên:
BĐKH được đặc trưng bởi hiện tượng nhiệt độ Trái đất nóng lên một cách bất thường. các quan sát khí tượng trên toàn cầu cho thấy nhiệt độ Trái đất đã tăng khoảng 0,60C trong hơn 1 thế kỷ qua. Theo báo cáo của IPCC vào các năm 1990, 2001, 2007 thì nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng 0,740C trong 100 năm qua (1906 – 2005), trong đó 50 năm gần đây tăng gấp đôi so với 50 năm trước.
Theo các dự báo, đến năm 2100 thì nhiệt độ Trái đất sẽ tăng thêm 1,40C – 5,80C. nguyên nhân chính của Trái đất nóng lên là do hoạt động của con người trong đó bao gồm các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và Dịch vụ đã Dấn đến việc phát thải KNK. Đó là sự lạm dụng quá mức nguồn năng lượng hóa thạch, thực hiện quá trình khoáng hóa các hóa chất hữu cơ do thiên nhiên ban tặng từ hàng triệu năm nay chỉ trong một thập kỷ. đó là nạn phá rừng bừa bãi, là đốt nương rẫy, đốt rơm rạ dưới đồng bằng làm cháy chất hữu cơ trong thảm thực vật và trong đất canh tác.
(2)   Băng tan và mực nước biển dâng cao
Chính sự tăng lên nhiệt độ của toàn cầu gây nên hiện tượng băng tan và nước biển dâng lên. Các khối băng ở Bắc Cực, Nam Cực đang bị thu hẹp nhanh về phạm vi và độ dày khiến cho nước biển dâng cao. Theo IPCC, mực nước biển dâng trung bình mỗi năm 1,8 mm trong thời kỳ 1961 – 2003, nhưng đã tăng nhanh tới 3,1 mm mỗi năm trong giai đoạn 1993 – 2003.
Bảng 1.2. Các kịch bản, nhiệt độ tăng và nước biển dâng theo IPPC (2007)
  
Các kịch bản Sự thay đổi nhiệt độ (0C, giai đoạn 2090-2099) Mực nước biển dâng (m, giai đoạn 1090-2099)
Trung bình Giới hạn Phạm vi dao động
Mức nền năm 2000 0,6 0,3 – 0,9  
Kịch bản B1 1,8 1,1 – 2,9 0,18 – 0,38
Kịch bản A1T 2,4 1,4 – 3,8 0,20 – 0,45
Kịch bản B2 2,4 1,4 – 3,8 0,20 – 0,43
Kịch bản A1B 2,8 1,7 – 4,4 0,21 – 0,48
Kịch bản A2 3,4 2,0 – 5,4 0,23 – 0,51
Kịch bản A1F1 4,0 2,4 – 6,4 0,26 – 0,59
Ghi chú: Kịch bản phát thải thấp (B1, A1T), phát thải trung bình (B2, A1B) và phát thải cao (A2, A1F1).
Dự kiến vào cuối thế kỉ 21, với các kịch bản khác nhau, mực nước biển có thể sẽ tăng lên 50 cm, 70 cm và 100cm hoặc cao hơn. Ít nhất 21 thành phố trên thế giới có nguy cơ cao bị nước biển nhấn chìm toàn bộ hoặc một phần. Các quốc gia có lãnh thổ bị thu hẹp do nước biến dâng gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam, Indonesia, Nhật Bản, Ai Cập, Hoa Kì, Thái Lan Và Philippin.
(3)   Thiên tai thường xảy ra thường xuyên khốc liệt hơn
Do ảnh hưởng của BĐKH mà hàng loạt các loatj các sự kiên thiên tai xảy ra ngày cáng nhiều với mức độ ảnh hưởng khốc liệt hơn trên toàn thế giới. theo IPCC từ những năm 1970 các cơn bão mạnh ngày càng gia tăng và càng xuất hiện nhiều cơn bão có quỹ đạo thất thường. nnooir bật của hiện tượng cực trị đó là hiện tượng El Nino của thế kỉ xảy ra trên toàn cầu trong những năm 1997 – 1998; cơn bão Mitch xảy ra tại Trung Mỹ và o năm 1998, Siêu bão cát tại Trung Quốc vào năm 2002; Cơn siêu bão Meami tại Hàn Quốc năm 2003; Cơn bão Katrina tại Bắc Mỹ năm 2005; hay cơn bão đôi tàn phá nặng nề Việt Nam và Philippin vào năm 2007.
Hậu quả của những sự kiên thiên tai là khoảng 3 triệu người chết, 200 triệu nguwofi bị ảnh hưởng; thiệt hại hàng năm về kinh tế do thiên tai gây ra ước tính khoảng 40 tỉ đô la và 50 triệu người bị ảnh hưởng. Dự kiến 50 năm sau thiên tai sẽ tăng gấp 4 lần và số người chịu ảnh hưởng có thể lên đến 2 tỉ người.
(4)   Một số dạng tài nguyên thiên nhiên mất đi hoặc biến đổi theo hướng bất lợi
Nhiệt độ Trái đất tăng lên làm tăng nguy cơ tiệt chủng của một số laoif động thực vật, làm biến mất các nguồn gen quý hiếm, bệnh Dịch mới có thể phát sinh.
3.                Biểu hiện của biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở Việt Nam trong 50 năm qua
Theo các báo cáo tè năm 2003 và 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, biến đổi của các yếu tố khí hậu và mực nước biển ở Việt Nam có những điểm đáng lưu ý sau:
-                      Nhiệt độ: trong 50 năm qua (từ 1958 – 2007),  nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên khoảng từ 0,50C đến 0,70C. nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Nam. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỉ gần đây (1961 – 2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỉ trước đó (1931 – 1960). Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 – 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỉ 1931 – 1940 lần lượt là 0,4; 0,8 và 0,60C. năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỉ 1931 – 1940 là 0,8 – 1,30C và cao hơn thập kỉ 1991 – 2000 là 0,4 – 0,50C.
-        Lượng mưa: trên cùng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng m ưa trung bình năm trong 9 thập kỉ vừa qua (1911 – 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống. lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam.
-        Không khí lạnh: số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỉ qua. Thuy nhiên, các biểu hiện Dị thường lại thường xuất hiện mà gần đây nhất là đợtkhí lạnh gây rét đậm, kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 ở Bắc Bộ.
-         Bão: những năm gần đây, bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn. Quỹ đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển Dần về phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có đường đi dị thường hơn.
-        Mưa phùn: số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm Dần từ thập kỉ 1981 – 1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây.
-        Mực nước biển: số liệu quan trắc tại cá trạm hải văn Dọc ven biển Việt Nam cho thấy tốc độ tăng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Nam hiện nay là khoảng 2,9 mm/năm (giai đoạn 1993 – 2010), tường đương với tốc độ tăng trung bình trên thế giới. trong khoẳng 50 năm qua, mực nước biển tại trạm hải văn Hòn Dấu dâng lên khoảng 20cm. xu thế tăng mực nước biển trên toàn biển Đông là 4,7mm/năm (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).
4.                 Tóm tắt kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam trong những năm tới
Năm 2011, sau nhiều nỗ lực cùng các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về ảnh hưởng của nước biển dâng, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các kịch bản về biến đổi khí hậu và nước biển dâng ở độ phân giải cao rên phạm vi các vùng sinh thái trong toàn quốc.
Kich bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam được xây dựng dựa trên kịch bản phát thải khí nhà kính và kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu IPCC, phản ánh sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng.
Các khí nhà kính được tính trong các kịch bản phát thải được nêu ở bảng sau
Bảng 1.3. Tên và công thức hóa học của cá khí nhà kính được tính trong các kịch bản phát thải

Tên loại Công thức
Carbon dioxide (khí các-bô-níc) CO2
Carbon Monoxide CO
Hydro Chroro flouro Carbons HFCCs
Hydro flouro Carbons HFCs
Methane CH4
Dinito Oxided N2O
Nitrogen Oxides NOX
Non- Methane Hydrocarbons NMVOCs
Per-flourocarbon PFCs
Sulphur Dioxide SO2
Sulphur Hexaflourie SF6.
 
Các kịch bản được chi tiết háo cho điều kiên khí hậu cụ thể của Việt Nam, thể hiện mức độ thay đổi của các yếu tố khí hậu, tập trung vào các yếu tố chính là nhiệt độ, lượng mưa và nước biển dâng cho các địa phương và khu vực ven biển Việt  Nam.
Các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng được xây dựng theo các kịch bản phát thải khí nhà kính : kịch bản phát thải thấp (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2, A1B) và kịch bản phát thải cao (A2, A1F1).
 Các yếu tố của kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng gồm : mức tăng nhiệt độ và sự thay đổi lượng mưa trung bình của các mùa (mùa đông (XII-I), mùa xuân (III-V), mùa hè (VI-VIII), mùa thu (IX-XI) và trung bình năm; các cực trị khí hậu gồm: nhiệt độ tối cao trung bình, tối thấp trung bình, sự thay đổi của số ngày có nhiệt độ nóng nhất và mức thay đổi của lượng mưa ngày lớn nhất; mực nước biển dâng cho các khu vực ven biển.
Nội dung của các kịch cho các vùng Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu long trong 1 số năm lựa chọn được tóm tắt trong bảng 1.4.
Các kịch bản được tóm tắt như sau :
-           Về nhiệt độ : Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình, nhiệt độ trung bình tăng từ 2 đến 30C trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng từ 2,2 đến 3,00C ; nhiệt độ cao nhất trung bình tăng từ 2,0 đến 3,20C . Số ngày có nhiệt độ  cao nhất trên 350C tăng từ 15 đến 30 ngày trên phần lớn diện tích cả nước.
-           Về lượng mưa : Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình, lượng mưa năm tăng trên hầu khắp lãnh thổ, mức tăng  phổ biến từ 2 đến 7%, riêng Tây Nguyên, Tây Nam Bộ tăng ít hơn, dưới 3%. Xu thế chung là lượng mưa mùa khô giảm và lượng mưa mùa mưa tăng. Lượng mưa ngày lớn nhất tăng thêm so với thời kỳ 1980 – 1999 ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và giảm ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ. Tuy nhiên, ở các khu vực khác nhau có thể xuất hiện ngày mưa dị thường với lượng mưa gấp đôi so với kỉ lục hiện nay.
-          Mực nước biển dâng : Vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình, nước biển dâng cao nhất ở vùng từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62 đến 82cm, thấp nhất ở vùng Móng Cái trong khoảng từ 49 đến 64cm, trung bình toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng từ 57 đến 73cm. Theo kịch bản phát thải cao (A1F1), VAO cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao nhất ở vùng từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 85 đến105cm, thấp nhất ở khu vực từ  Móng Cái đến Hòn Dầu trong khoảng từ 66 đến 85cm, trung bình toàn Việt Nam, nước biển dâng từ 78 đến 95cm.
-          Nếu nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập; gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp; trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng.
Bảng 1.4. Diễn biến tăng nhiệt độ , lượng mưa và nước biển dâng tại ĐBSH và ĐBSCL trong các năm 2030, 2050 và 2100
 
Vùng Kịch bản Năm
2030 2050 2100
Nhiệt độ (0C) tăng lên so với trung bình nhiệt độ thời kì 1980-1999
ĐBSH B1 0,7 1,2 1,5
B2 0,7 1,2 2,4
A2 0,7 1,3 3,1
ĐBSCL B1 0,6 1,0 1,4
B2 0,6 1,0 2,0
A2 0,6 1,0 2,6
Sự thay đổi lượng mưa (%) so với trung bình mưa thời kì 1980-1999
ĐBSH B1 2,3 3,9 5,2
B2 2,3 4,1 7,9
A2 2,3 3,8 10,1
ĐBSCL B1 0,4 0,7 1,0
B2 0,4 0,8 1,5
A2 0,4 0,7 1,9
Nước biển dâng (cm) so với thời kì 1980-1999
  B1 17 28 65
B2 17 30 75
A2 17 33 100
 
Việc sử dụng kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam trong đánh giá tác động và xây dựng kế hoạch ứng phó với BĐKH cần được xem xét và lựa chọn phù hợp với từng ngành, từng lĩnh vực và địa phương với các tiêu chí :
(i)              Tình (của ngành, lĩnh vực, địa phương…) ;
(ii)             Tính đa mục tiêu ;
(iii)            Tính hiệu quả nhiều mặt (kinh tế, xã hôi, môi trường) ;
(iv)            Tính bền vững ;
(v)             Tính khả thi, khả năng lồng ghép với cá chiến lược, chính sách và kế hoạch phát triển.
Việc triển khai, xây dựng va thực hiện các biện pháp ứng phó với BĐKH không nhất thiết phải tiến hành đại trà ở quy mô thế kỷ mà cần phải có sự phân kỳ thực hiện; cần phải xác định được mức độ ưu tiên dựa trên nhu cầu thực tiễn, nguồn nhân lực có được trong từng giai đoạn để lựa chọn kịch bản phù hợp nhất. Kịch bản thấp và kịch bản trung bình có thể được áp dụng đối với các tiêu chuẩn thiết kế các công trình không lâu dài và các quy hoạch, kế hoạch ngắn hạn.
Các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ giúp chúng ta có những điều chỉnh thích hợp cũng như đưa ra các chiến lược ứng phó với sự thay đổi của khí hậu trong tương lai. Tuy vậy, các kịch bản BĐKH và nước biển dâng luôn tồn tại những điểm chưa chắc chắn vì còn phụ thuộc vào việc xác định các kịch bản phát thải KNK, nồng độ KNK trong khí quyển trong tương lai, những hiểu biết còn hạn chế của chúng ta về hệ thống khí hậu toàn cầu và khu vực, quá trình tan băng, phương pháp xây dựng kịch bản…

Related news

SUSTAINABLE AGRICULTURE DEVELOPMENT SUPPORT